Xuất tinh máu là gì? Các công bố khoa học về Xuất tinh máu

Xuất tinh máu là tình trạng có máu trong tinh dịch nam giới, có thể do viêm nhiễm, chấn thương, hoặc hiếm hơn là khối u. Triệu chứng đi kèm gồm đau khi xuất tinh, đau vùng chậu, máu trong nước tiểu, sốt. Chẩn đoán thông qua khám lâm sàng, xét nghiệm máu, nước tiểu, siêu âm. Điều trị dựa trên nguyên nhân như dùng kháng sinh cho nhiễm trùng. Khám y tế quan trọng để loại trừ bệnh nghiêm trọng và bảo vệ sức khỏe nam giới. Việc thăm khám thường xuyên là cần thiết để duy trì sức khỏe sinh sản.

Xuất Tinh Máu Là Gì?

Xuất tinh máu (tiếng Anh: Hematospermia) là tình trạng trong đó có sự hiện diện của máu trong tinh dịch nam giới. Đây là hiện tượng có thể gây lo lắng cho người gặp phải mặc dù không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe. Tuy nhiên, để đảm bảo sự an tâm, người bệnh nên tìm đến cơ sở y tế để được kiểm tra và chẩn đoán chính xác.

Nguyên Nhân Gây Ra Xuất Tinh Máu

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng xuất tinh máu. Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp:

  • Viêm nhiễm: Nhiễm trùng ở tuyến tiền liệt, túi tinh hoặc các bộ phận khác trong hệ thống sinh sản có thể gây ra xuất tinh máu.
  • Chấn thương: Bất kỳ tổn thương nhẹ hoặc nghiêm trọng nào ở bộ phận sinh dục đều có thể gây ra hiện tượng này.
  • Khối u và ung thư: Dù hiếm gặp, nhưng khối u hoặc ung thư trong hệ sinh dục có thể là nguyên nhân gây xuất tinh máu.
  • Các thủ thuật y tế: Các thủ thuật hoặc phẫu thuật như sinh thiết tuyến tiền liệt đôi khi có thể gây chảy máu trong tinh dịch.
  • Rối loạn đông máu: Các vấn đề về đông máu cũng có thể dẫn đến hiện tượng xuất tinh máu.

Triệu Chứng Đi Kèm

Xuất tinh máu thường được phát hiện khi người bệnh nhận thấy máu trong tinh dịch. Các triệu chứng kèm theo có thể bao gồm:

  • Đau khi xuất tinh: Cảm giác đau buốt khi xuất tinh có thể đi kèm với hiện tượng này.
  • Đau vùng chậu hoặc thắt lưng: Cảm giác đau kéo dài có thể xảy ra ở các khu vực này.
  • Máu trong nước tiểu: Một số trường hợp có thể thấy máu xuất hiện trong nước tiểu.
  • Sốt hoặc ớn lạnh: Triệu chứng nhiễm trùng có thể đi kèm, đặc biệt nếu nguyên nhân là do viêm nhiễm.

Chẩn Đoán và Điều Trị

Quá trình chẩn đoán xuất tinh máu thường bắt đầu bằng việc khám lâm sàng và hỏi bệnh sử chi tiết của bệnh nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

  • Xét nghiệm máu: Kiểm tra các dấu hiệu nhiễm trùng hoặc rối loạn khác.
  • Xét nghiệm nước tiểu: Tìm kiếm sự hiện diện của máu hoặc vi khuẩn.
  • Siêu âm hoặc chụp MRI: Hình ảnh hóa để đánh giá các cơ quan sinh sản.

Việc điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản:

  • Kháng sinh: Sử dụng trong trường hợp viêm hoặc nhiễm trùng.
  • Điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật: Áp dụng cho các trường hợp nghiêm trọng hơn như ung thư.

Tầm Quan Trọng của Việc Thăm Khám Y Tế

Mặc dù xuất tinh máu không phải lúc nào cũng nguy hiểm, nhưng việc thăm khám y tế là cần thiết để loại trừ bất kỳ bệnh lý nghiêm trọng nào. Việc điều trị sớm có thể giúp ngăn ngừa các biến chứng và đảm bảo sức khỏe sinh sản cho nam giới.

Kết Luận

Xuất tinh máu là hiện tượng có thể khiến nhiều người lo lắng nhưng không phải lúc nào cũng nghiêm trọng. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và sức khỏe của bản thân, tốt nhất là nên thăm khám và tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa khi gặp phải tình trạng này.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "xuất tinh máu":

Hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất nông nghiệp tại vùng u minh thuộc hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp - Tập 2 Số 2 - Trang 723-732 - 2018
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định thực trạng sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất nông nghiệp tại khu vực U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau và U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu thực tế, đồng thời sử dụng phương pháp xử lý số liệu, tính toán hiệu quả kinh tế đầu vào, đầu ra và hiệu quả đồng vốn để so sánh, đánh giá tính hiệu quả của các mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số chủ hộ và lao động chính trong vùng có trình độ học vấn thấp chủ yếu là cấp 1 và cấp 2, nông dân trong vùng có kinh nghiệm sản xuất lâu năm, tuy nhiên người dân vẫn còn thiếu vốn và phương tiện sản xuất. Thị trường tiêu thụ nông sản của người dân trong vùng tương đối thuận lợi, phần lớn đều được thương lái thu mua. Trong vùng có khá nhiều mô hình canh tác như Lúa; các loại cây trồng cạn như Mía, Khóm, Gừng, rau màu; Chuối; Dây thuốc cá… Diện tích đất phân bổ cho các mô hình canh tác dao động từ 0,75 ha đến 2,58 ha, ngoại trừ mô hình trồng rau màu có diện tích nhỏ hơn là 0,28 ha. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế của các mô hình chưa cao, mô hình Lúa – Gừng và Lúa – Mía – Gừng mang lại lợi nhuận cao nhất nhưng hiệu quả đồng vốn thấp, mô hình Dây thuốc cá, mô hình trồng Chuối có hiệu quả đồng vốn cao nhưng chưa phổ biến trong vùng. ABSTRACTThe study was carried out to determine production state and economic efficiency of agricultural production model at the U Minh Ha in Ca Mau province and U Minh Thuong in Kien Giang province. The household interview method, and data processing method to calculate data about the outcome, income and benefit cost of production model. The result of the study showed that most of the farmers who are major labors had low education level was ranging from primary school to secondary school, the farmer in the study area have long-term production experience, but they are lack capital and equipment for production. The market for agricultural products in the area was advantages and information market also got from many reliable sources. The land use types in the study zone were various such as Rice crop; Upland crops included: Sugarcane, Pineapple, Ginger, Vegetable; Bananas, Derris elliptica crop…. Most of the production lands were very variously from 0.75 ha to 2.58 ha, except upland crops for Vegetables was less than 0.28 ha. However, the cultivation models have brought in low economic efficiency, Rice – Ginger crop and Rice – Sugarcane – Ginger have high economic efficiency but benefit cost was low; Derris elliptica crop and Bananas crop have high economic efficiency but they were not popular in there yet.  
#hiệu quả kinh tế #kiểu sử dụng đất #sản xuất nông nghiệp #U Minh #agricultural production #economic efficiency #land use
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA 612 BỆNH NHÂN XUẤT TINH MÁU TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 503 Số 1 - 2021
Để nhận biết các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của tình trạng xuất tinh máu ở nam giới, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 612 bệnh nhân nam bị xuất tinh máu. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của các bệnh nhân trong nghiên cứu là 39,42 ± 11,67tuổi. Tỉ lệ bệnh nhân có tiền sử sử dụng rượu bia trong những lần xuất tinh có máu chiếm 22,45%, tỉ lệ bệnh nhân ghi nhận có thói quen kìm hãm hay gián đoạn quan hệ khi xuất tinh chiếm 16,25%. Tỉ lệ bệnh nhân làm PCR lao dương tính chiếm 1,27%. Tỉ lệ bệnh nhân có tPSA tăng chiếm 1,92%. Tỉ lệ nuôi cấy dương tính chiếm 8,94%. Nồng độ testosterone ở những bệnh nhân này khá thấp so với lứa tuổi, trong đó có 26,01% bệnh nhân có giá trị testosterone giảm (<12,1nmol/L), 23,7% bệnh nhân có giá trị testosterone trong giới hạn thấp (12,1-15 nmol/L).
#Xuất tinh máu #yếu tố nguy cơ xuất tinh ra máu
ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH RỐI LOẠN ĐÔNG MÁU DO QUÁ LIỀU CHỐNG ĐÔNG KHÁNG VITAMIN K TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ HẢI PHÒNG - VĨNH BẢO
Tạp chí Sinh lý học Việt Nam - Tập 28 Số 1 - Trang - 2024
Mục tiêu: Nghiên cứu (NC) đặc điểm lâm sàng, rối loạn đông máu (RLĐM) ở người bệnh (NB) có tình trạng RLĐM khi đang điều trị bệnh với thuốc chống đông kháng vitamin K. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: NC mô tả, tiến cứu trên những NB đang được điều trị bằng thuốc chống đông kháng vitamin K có chỉ số xét nghiệm INR vượt ngưỡng yêu cầu ở những người bệnh có xét nghiệm INR định kỳ 4 tuần/lần tại tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng - Vĩnh Bảo trong thời gian từ 2/2021 – 11/2022. Kết quả: NC trên 79 NB có độ tuổi trung bình là 65.65 ± 12.17 [33:85], đa số thuộc nhóm cao tuổi (73.4%). Tỉ lệ Nam giới (31.6%) thấp hơn so với nữ giới (68.4%) nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0.05). NB có biểu hiện xuất huyết chiếm 22.8%. Chỉ số INR có giá trị trung bình là 5.88 ± 3.0 [3.02 – 23.95]. Nhóm có mức độ INR > 5 (chiếm 51.9%) và nhóm có mức độ INR ≤5 (chiếm 48.1%) có tỉ lệ tương đương nhau (p> 0.05). Trong nhóm RLĐM, nhóm có chỉ số INR >5 có nguy cơ gây xuất huyết chảy máu cao hơn nhóm có chỉ số INR < 5 có ý nghĩa thống kê (p < 0.001). Kết luận: Nhóm NC có RLĐM chủ yếu gặp ở nhóm cao tuổi. Nhóm nam giới gặp ít hơn so với nhóm nữ nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. NB có triệu chứng xuất huyết chảy máu chiếm 22.8%. Không có sự khác biệt về tỷ lệ giữa 2 nhóm có chỉ số INR > 5 và nhóm có chỉ số INR ≤ 5 nhưng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nguy cơ biến chứng xuất huyết. Từ khóa: INR, rối loạn đông máu, xuất huyết chảy máu.
#INR #rối loạn đông máu #xuất huyết chảy máu
Chụp X-quang Vi tính Vi mô để Phát hiện Rối loạn Mạch Máu Não do Xuất Huyết ở Chuột Dịch bởi AI
Translational Stroke Research - Tập 3 - Trang 174-179 - 2012
Việc sử dụng kỹ thuật di truyền để phát triển các mô hình chuột thần kinh quan trọng đã khiến việc hình ảnh mạch máu não trở thành thiết yếu trong việc nghiên cứu nhiều rối loạn não, đặc biệt là các rối loạn mạch máu não, như phình mạch, dị dạng động tĩnh mạch, và đột quỵ do thiếu máu và xuất huyết. Hiện nay, đã có các máy chụp X-quang vi mô dựa trên phòng thí nghiệm cung cấp khả năng truy cập dễ dàng, hoạt động đáng tin cậy và hiệu suất trước đây chỉ có ở các thiết bị dựa trên đồng bộ hóa. Ở đây, chúng tôi báo cáo một phương pháp mới sử dụng hệ thống như vậy để phát hiện xuất huyết nội sọ và bệnh lý mạch máu não phát sinh. Các chú chuột đực trưởng thành C57BL/6 (n = 12) đã được tiêm 30 μl máu tự thân vào vùng hạt nền bên phải. Sau khi hy sinh động vật và tưới máu với Microfil® MV-122 Yellow để làm nổi bật các cấu trúc mạch máu và vi mạch, não đã được cố định và hydrat hóa một phần cho hình ảnh 3D bằng MicroXCT-400® ở 30 KeV và độ phân giải 2 μm. Tái cấu trúc tomogra phic của các microimage có độ phân giải cao được thực hiện với phần mềm Amira®. Các hình ảnh 3D chất lượng cao bao gồm các vi mạch não, vòng Willis, xoang sọ dọc, xoang ngang và các hệ thống động mạch và tĩnh mạch khác. Trong bán cầu cùng bên, rõ ràng có sự giãn mạch giai đoạn đầu và tái mạch hóa giai đoạn muộn. Hình ảnh chụp tương phản X-quang vi mô có độ phân giải rất cao, dựa trên phòng thí nghiệm có thể thực hiện các định lượng nhạy cảm về các thay đổi nhỏ mạch máu não bình thường và bệnh lý, đặc biệt là ở đột quỵ xuất huyết và sự tái mạch hóa do xuất huyết sau đó.
#mạch máu não #xuất huyết #chụp X-quang vi tính #mô hình chuột #bệnh lý thần kinh
Thành phần phenolic và việc bao bọc các chiết xuất hạt nho Brazil: đánh giá khả năng ổn định màu sắc trong nước nho Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - - 2024
Màu sắc của nước nho là một thuộc tính quan trọng trong sự chấp nhận của người tiêu dùng, nhưng nó gặp phải sự suy giảm trong quá trình bảo quản. Việc sử dụng các chất chống oxy hóa thương mại còn hạn chế do khái niệm về "nước uống 100% tự nhiên" của luật pháp Brazil. Công trình này đã phân tích các hạt nho Brazil, và chiết xuất từ giống nho có tiềm năng lớn nhất đã được bao bọc trong Arabica-gum (chiết xuất bao bọc - EE) để đánh giá khả năng ổn định màu sắc. EE được sử dụng trong nước nho đã được so sánh với các chất chống oxy hóa thương mại như sulfite và tannin nho trong suốt quá trình bảo quản (150 ngày). Hạt nho BRS Magna và BRS Violeta có hàm lượng phenolic cao nhất, và EE cho thấy giá trị cao về catechin (4108 mg/kg), epicatechin (1161 mg/kg) và procyanidin-B2 (905 mg/kg). Sulfite được phát hiện là chất ổn định màu sắc tốt nhất. Việc sử dụng EE (0.5 g/L) trong nước nho đã cải thiện độ ổn định màu sắc và độ ổn định của anthocyanin. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chiết xuất hạt nho bao bọc có tiềm năng ổn định màu sắc và rằng hạt nho Brazil là một nguyên liệu có giá trị công nghệ cao.
#hạt nho Brazil #chiết xuất bao bọc #tính ổn định màu sắc #chất chống oxy hóa #nước nho
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT MẪU HUYẾT TƯƠNG ĐÔNG KHÔ ỨNG DỤNG TRONG NGOẠI KIỂM PHÁT HIỆN KHÁNG NGUYÊN NS1 VIRUS DENGUE
Nghiên cứu thực hiện nhằm sản xuất bộ mẫu huyết tương đông khô phát hiện kháng nguyên NS1 virus Dengue đạt độ đồng nhất theo tiêu chuẩn ISO 17043 và ISO 13485 ứng dụng trong ngoại kiểm. Đây là dạng nghiên cứu thực nghiệm nhằm sản xuất bộ mẫu huyết tương với phương pháp đông khô gồm 2 lô: lô 1 (mẫu dương tính kháng nguyên NS1 virus Dengue), lô 2 (mẫu âm tính kháng nguyên NS1 virus Dengue). Chọn mẫu ngẫu nhiên thông qua phầm mềm Microsoft Excel 16 và sử dụng phép phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) để đánh giá tính đồng nhất của mẫu sau sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy bộ mẫu đông khô gồm 2 lô được sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 17043 và đánh giá theo ISO 13485 đạt độ đồng nhất với CV% Lô 1, Lô 2 lần lượt là 0,62 và 0,7. Tóm lại, bộ mẫu huyết tương đông khô đã sản xuất đạt độ đồng nhất đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 17043 và ISO 13528 phục vụ ứng dụng trong chương trình ngoại kiểm phát hiện kháng nguyên NS1 virus Dengue.
#huyết tương đông khô #ngoại kiểm #kháng nguyên NS1 Dengue #sốt xuất huyết #tính đồng nhất
7. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA VIÊM TÚI TINH TẠI TRUNG TÂM NAM HỌC BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2021 ĐẾN 2022
Tạp chí Y học Cộng đồng - Tập 65 Số CD4 - Hội Y học Giới tính Việt Nam - Trang - 2024
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả kết quả điều trị nội khoa viêm túi tinh tại Trung tâm Nam học, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2021 đến 2022. Phương pháp nghiên cứu: Ngiên cứu mô tả hồi cứu theo dõi dọc trên 60 bệnh nhân được chẩn đoán viêm túi tinh được điều trị nội khoa ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 1/2021 đến hết tháng 6 năm 2022. Kết quả: Tuổi trung bình: 43,5 ± 10,8 (21-67). Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là xuất tinh máu, xuất tinh đau với tỉ lệ lần lượt là: 98,33%, 40%. Kết quả nuôi cấy nước tiểu âm tính là 90%. Kết quả nuôi cấy tinh dịch dương tính là: 16/60 (26,67%). Thời gian theo dõi trung bình: 15,9 ± 5,4 tháng. Kết quả điều trị khỏi: 61,67%, tái phát: 36,67%. Xét nghiệm “cấy tinh dịch dương tính” có tỉ lệ điều trị thành công cao hơn nhóm có xét nhiệm “cấy tinh dịch âm tính” có ý nghĩa thống kê với p = 0,01<0,05. Kết luận: Điều trị nội khoa viêm túi tinh là phương pháp cho kết quả khả quan nhưng cũng dễ tái phát, xét nghiệm nuôi cấy tinh dịch có ý nghĩa trong điều trị.
#Viêm túi tinh #xuất tinh máu.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH SIÊU ÂM QUA ĐƯỜNG TRỰC TRÀNG Ở BỆNH NHÂN XUẤT TINH MÁU
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đặc điểm hình ảnh siêu âm qua đường trực tràng (TRUS) ở bệnh nhân xuất tinh máu.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu trên 85 bệnh nhân nam có dấu hiệu xuất tinh máu trên lâm sàng, được xét nghiệm tinh dịch đồ, vi sinh tinh dịch và TRUS tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 8/2018 - 4/2019.Kết quả: 85 bệnh nhân có tuổi từ 16-66 tuổi (TB = 36,6 ± 11,8), <40 tuổi 63,5%,≥40 tuổi 36,5%, thời gian xuất hiện triệu chứng từ 1 ngày đến 10 năm (TB = 3,5 tháng). Hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng (75,3%), đau vùng tiểu khung khí xuất tinh (24,7%), đổi màu tinh dịch sang nẫu sâm và đỏ (40% và 51,8%). Xét nghiêm tinh dịch đồ hầu hết có hồng cầu và bạch cầu trong tinh dịch (74,4% và 70,2%). Vi sinh tinh dịch hầu hết âm tính (71,9%), tỷ lệ dương tính thấp Streptococus (22,8%), Enterococus (5,3%). Các bất thường được TRUS phát hiện chiếm 92,9% gồm: bất thường ở túi tinh 71,7%, ống phóng tinh 76,4%, tuyến tiền liệt 57%, không có trường hợp nào phát hiện bệnh lý ác tính.Kết luận: Xuất tinh máu là hiện tượng có máu trong tinh dịch, gặp chủ yếu nhóm tuổi <40, hầu hết không có triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm thường có hồng cầu và bạch cầu trong tinh dịch, nuôi cấy vi khuẩn thường âm tính. TRUS là phương pháp an toàn, hiệu quả có thể để phát hiện các bất thường túi tinh, ống phóng tinh, tuyến tiền liệt liên quan đến xuất tinh máu.
Phương pháp chiết xuất vi mô lỏng-lỏng phân tán nhanh dựa trên thu hồi từ tính của một chất lỏng ion hình thành tại chỗ để tiền tập trung và xác định các bộ lọc UV loại benzophenone từ các mẫu nước môi trường Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 16 - Trang 661-671 - 2018
Nghiên cứu này liên quan đến việc phát triển một phương pháp chiết xuất vi mô lỏng-lỏng phân tán nhanh và mới cho việc thu hồi từ tính của chất lỏng ion, như một cách tiếp cận mới cho việc tách biệt các bộ lọc UV loại benzophenone thông qua việc định lượng sử dụng UPLC với phát hiện PDA. Các chất phân tích được xác định trong nghiên cứu này bao gồm một nhóm ba benzophenone: 2,4-dihydroxybenzophenone (BP1), 2,2′,4,4′-tetrahydroxybenzophenone (BP2) và 2-hydroxy-4-metoxybenzophenone (BP3). Chất lỏng ion ưa nước phù hợp được sử dụng làm dung môi chiết xuất cho các chất phân tích mục tiêu là didecyldimethylammonium chlorate (DDAC). Một tác nhân trao đổi anion, NaClO4 đã được bổ sung để thúc đẩy phản ứng trao đổi và tại chỗ tạo ra IL, [DDA][ClO4]. Các tham số thực nghiệm như nồng độ IL, tỷ lệ mol giữa DDAC và NaClO4, lượng oxide sắt được thêm vào và thể tích mẫu nước đã được điều tra và tối ưu hóa thông qua quy trình tối ưu hóa từng bước. Các tham số thực nghiệm tối ưu được xác định như sau: 30 mL thể tích mẫu, nồng độ 1% của DDAC, tỷ lệ mol giữa DDAC và NaClO4 là 1:2, và 5 mg hạt nano sắt từ Fe3O4. Phương pháp chiết xuất đề xuất là đơn giản và không mất quá 5 phút. Giới hạn phát hiện (LOD) đạt được cho các chất phân tích mục tiêu dao động từ 12.320,0 ng L−1, trong khi hệ số tương quan (r2) từ 0,9995 đến 0,9999. Cuối cùng, phương pháp phát triển đã được áp dụng thành công để xác định các bộ lọc UV loại BP trong các mẫu nước môi trường, và đã đạt được kết quả đáng hài lòng.
#chiết xuất micro #lỏng-lỏng #chất lỏng ion #benzophenone #bộ lọc UV #mẫu nước môi trường #UPLC #phát hiện PDA
Siêu âm Doppler xuyên sọ và chụp mạch bằng vi tính trong chẩn đoán co thắt mạch máu não sau xuất huyết dưới nhện do phình mạch Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 46 - Trang 1-9 - 2022
Co thắt mạch máu não là một biến chứng đe dọa tính mạng sau xuất huyết dưới nhện do phình mạch (aSAH). Mặc dù chụp mạch số hóa (DSA) là tiêu chuẩn vàng hiện tại để phát hiện, nhưng hiệu năng chẩn đoán của chụp mạch bằng vi tính (CTA) và siêu âm Doppler xuyên sọ (TCD) vẫn gây tranh cãi. Chúng tôi nhằm tóm tắt các bằng chứng hiện có và đưa ra khuyến nghị cho việc sử dụng chúng dựa trên tiêu chí GRADE. Một cuộc tìm kiếm tài liệu đã được thực hiện cho các nghiên cứu so sánh CTA hoặc TCD với DSA cho người lớn ≥ 18 tuổi có aSAH để phát hiện co thắt mạch máu qua hình ảnh. Mô hình ngẫu nhiên hiệu ứng DerSimonian–Laird được sử dụng để tổng hợp độ nhạy và độ đặc hiệu cũng như khoảng tin cậy 95% (CI) và suy luận các tỷ lệ khả năng dương tính và âm tính tổng hợp (LR + / LR -). Trong số 2070 nghiên cứu, bảy nghiên cứu (1646 đoạn động mạch) đã đáp ứng tiêu chí bao gồm và được phân tích meta. So với tiêu chuẩn vàng (DSA), CTA có độ nhạy tổng hợp là 82% (95% CI, 68–91%) và độ đặc hiệu là 97% (95% CI, 93–98%), trong khi đó TCD có độ nhạy thấp hơn 38% (95% CI, 19–62%) và độ đặc hiệu đạt 91% (95% CI, 87–94%). Chỉ có LR + cho CTA (27,3) đạt được ý nghĩa lâm sàng để khẳng định chẩn đoán. LR − cho CTA (0,19) và TCD (0,68) gần đạt ý nghĩa lâm sàng (< 0,1) để bác bỏ chẩn đoán. CTA cho thấy LR + cao hơn và LR - thấp hơn so với TCD trong việc chẩn đoán co thắt mạch máu qua hình ảnh, dẫn đến việc đạt được khuyến nghị mạnh cho việc sử dụng nó trong việc xác nhận hoặc loại trừ co thắt mạch máu, dựa trên chất lượng bằng chứng cao. TCD có LR + rất thấp và LR − ở mức hợp lý thấp, qua đó đạt được khuyến nghị yếu chống lại việc sử dụng trong việc khẳng định co thắt mạch máu và khuyến nghị yếu cho việc sử dụng trong việc loại trừ co thắt mạch máu.
#co thắt mạch máu não #xuất huyết dưới nhện #chụp mạch số hóa #chụp mạch bằng vi tính #siêu âm Doppler xuyên sọ #chẩn đoán trong y học
Tổng số: 30   
  • 1
  • 2
  • 3